Lịch sử Ai Cập Pharaoh và kim tự tháp

Phanblogs Lịch sử Ai Cập Pharaoh và kim tự tháp Theo các nhà khảo cổ thì Ai Cập là một trong những nền văn minh cổ nhất của nhân loại. Mặc dù ngày nay người ta vẫn chưa xác định được nguồn gốc dân Ai Cập nhưng khoảng hơn bảy ngàn năm trước, người Ai Cập đã di cư đến vùng đồng bằng quanh lưu vực sông Nile rồi định cư tại đó. Truyền thuyết Ai Cập nói rằng tổ tiên của họ xuất phát từ một đại lục rất xa, nơi có nền văn minh rất cao nhưng vì biết nơi đó sẽ gặp nạn hồng thủy nên một số người đã đóng thuyền di cư đến vùng này. Có thể vì xuất thân từ một nền văn minh cao nên từ bảy ngàn năm trước, người Ai Cập đã có chữ viết, biết sử dụng toán học để xác định vị trí các tinh tú và xây cất những kiến trúc hùng vĩ như thế.





Lịch sử Ai Cập Pharaoh và kim tự tháp
Lịch sử Ai Cập Pharaoh và kim tự tháp

Các nhà sử học sắp xếp lịch sử Ai Cập ra làm 6 thời đại với 30 triều đại vua Pharaoh như sau:
1. Tiền sử Thời đại (Pre-historic Period): Khoảng 7000 năm đến 5000 năm trước Công nguyên. Đây là một thời đại mơ hồ với rất nhiều huyền thoại, truyền thuyết mà phần lớn các học giả người u cho là hoang đường, huyền hoặc, không đáng tin.
2. Nguyên sử Thời đại (Early Dynasties Period): Khoảng 5000 năm đến 4000 năm trước Công nguyên. Lúc đầu Ai Cập chia làm nhiều vùng, mỗi vùng có một sứ quân cai quản cho đến khi sứ quân Menes nổi lên đánh dẹp các sứ quân khác, thống nhất Ai Cập thành một quốc gia. Menes tự xưng là Pharaoh (Người Ở Nhà To Lớn), vừa là người vừa là thần linh, có quyền hành tuyệt đối và bất khả xâm phạm. Pharaoh Menes chia xã hội thành những giai cấp để dễ bề cai trị. Giai cấp thứ nhất là Pharaoh và gia đình, nắm quyền chỉ huy cai trị. Giai cấp thứ hai là giáo sĩ, phần lớn là những người có học thức cao, có nhiệm vụ làm trung gian giữa thần linh và con người. Giai cấp thứ ba là quí tộc, gồm các quan lại và quân nhân, nắm quyền giữ an ninh, trật tự trong các địa phương. Những giai cấp sau như thợ thuyền, thương buôn, công nghệ và nông dân có bổn phận phục vụ cho những giai cấp trên. Pharaoh Menes lập triều đình gồm các quan thu thuế, xử kiện, giữ sổ sách và đặc biệt ghi chép các biến cố lịch sử lên bia đá nên từ đó lịch sử Ai Cập được đời sau biết đến.
3. Cổ sử Thời đại (Old Kingdom Period): Khoảng 4000 năm đến 3000 năm trước Công nguyên. Đây là thời đại rất đặc biệt với 6 triều đại và 32 Pharaoh mà vị nào cũng cho xây cất, kiến tạo những Kim Tự Tháp, đền đài, lăng tẩm hết sức hùng vĩ. Cũng trong thời đại này, người Ai Cập bắt đầu sử dụng thuyền buồm, bánh xe, nấu thủy tinh, luyện kim và xây các đập nước, kinh đào để dẫn nước vào ruộng.
4. Trung sử Thời đại (Middle Kingdom Period): Khoảng 3000 năm đến 2000 năm trước Công nguyên. Thời đại này gồm có 7 triều đại và hơn 100 Pharaoh. Đây là giai đoạn xã hội Ai Cập suy đồi nhiều vì đa số các Pharaoh chỉ lo hưởng thụ các tiện nghi vật chất chứ ít chịu phát triển hay xây dựng. Đây cũng là giai đoạn mà nền tôn giáo cổ Ai Cập thoái hóa thành các hình thức mê tín dị đoan nên việc sử dụng tà thuật, bùa chú rất thịnh hành. Nhiều người đã gọi thời đại này là thời đại của các giáo sĩ vì quyền hành của họ vượt xa Pharaoh. Hầu hết chủ trương tôn thờ Amun (Đa thần giáo) với các nghi thức thờ cúng, tế thần và giết nô lệ để chuộc tội.
5. Tân Sử Thời đại (New Kingdom Period): Khoảng 2000 năm đến 1000 năm trước Công nguyên. Thời đại này gồm 8 triều đại và 20 Pharaoh mà người nào cũng gây chiến với các nước láng giềng. Các nhà viết sử đã đề cao thời đại này như giai đoạn huy hoàng nhất lịch sử Ai Cập với các chiến công hiển hách, các đền đài lăng tẩm được xây cất to lớn vĩ đại hơn những triều vua trước. Hầu hết những Pharaoh thời này đều là những bạo chúa khát máu, chỉ trừ một Pharaoh duy nhất bị lịch sử chê trách là nhu nhược, hèn yếu vì đã từ bỏ truyền thống cũ để cổ xướng một sự thay đổi chưa từng có trong lịch sử Ai Cập. Pharaoh Akhenaten đã từ bỏ việc thờ cúng thần Amun mà chủ trương tôn thờ Aten (Độc thần giáo) hay chân lý tuyệt đối trong vũ trụ.
Trong 17 năm cai trị của ông, Ai Cập không hề gây chiến tranh mà chỉ phát triển rất mạnh về phương diện nghệ thuật, văn chương, đặc biệt là thơ phú. Các nhà khảo cổ đã gọi Akhenaten là "Pharaoh thi sĩ" vì ông đã để lại nhiều bài thơ khắc trên bia đá, thạch trụ rất đặc biệt. Sau khi Akhenaten qua đời, các vị Pharaoh đời sau lại phục hồi việc thờ cúng thần Amun và gây chiến với các nước chung quanh. Triều đại Seti mở rộng biên giới Ai Cập ra khắp bán đảo Ả Rập. Triều đại Ramses tiếp tục công cuộc xâm lăng các nước láng giềng, thu hoạch rất nhiều chiến lợi phẩm và nô lệ, mang về Ai Cập để xây cất các đền đài vĩ đại chưa từng có. Tuy nhiên cuộc chiến tranh kéo dài hàng trăm năm này đã mang lại một hậu quả rất khốc hại cho người Ai Cập. Vì đa số chỉ quen chém giết, cướp bóc chứ không còn biết xây dựng cho nên khi không còn kẻ thù nào để chinh phục, họ quay ra chém giết, bóc lột và tàn sát lẫn nhau khiến xã hội Ai Cập trở nên hỗn loạn, vô trật tự, suy yếu và theo thời gian trở thành mồi ngon cho Syria và Ba Tư. Đây cũng thời đại tự chủ cuối cùng của người Ai Cập vì trong suốt 2000 năm sau, Ai Cập hoàn toàn nằm dưới ách cai trị và bảo hộ của các quốc gia khác.
6. Ngoại thuộc Thời Đại (Domination Period): Khoảng gần 1000 năm trước Công nguyên cho đến cận đại. Giai đoạn này Ai Cập mất quyền tự chủ và bị đặt dưới ách cai trị của các cường quốc khác. Lúc đầu họ bị người Syria xâm lăng, chiếm đoạt phần lớn đất đai; sau đó Ai Cập lại bị Ba Tư, Hy Lạp, La Mã, Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, và cuối cùng là các cường quốc u châu như Pháp và Anh xâm chiếm, cai trị. Mặc dù trên nguyên tắc, Ai Cập vẫn được duy trì chế độ quân chủ (có vua và triều đình), nhưng suốt thời gian mấy ngàn năm, hầu hết các nhà lãnh đạo Ai Cập chỉ là những vị vua bù nhìn, vô quyền, làm tay sai cho những thế lực ngoại bang. Nền văn hóa phong phú của họ bị thay thế bằng một thứ văn hóa ngoại lai, lúc đầu chịu ảnh hưởng Ba Tư, Hy Lạp; sau bị đồng hóa với văn hóa Ả Rập. Ngay cả chữ viết của Ai Cập cũng hoàn toàn bị thay thế bằng chữ Hy Lạp và chữ Ả Rập. Đầu thế kỷ 18, tiếng Pháp trở nên ngôn ngữ chính rồi qua thế kỷ 19, tiếng Anh được sử dụng trong các văn kiện, giấy tờ và ngay cả hiến pháp quốc gia. Năm 1952, tướng Gamal Nasser truất phế hoàng đế bù nhìn Farouk, lập chế độ Cộng hòa Ai Cập và trở thành vị tổng thống đầu tiên của xứ này. Kể từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên cho đến thế kỷ 20, Ai Cập mới thực sự giành được độc lập.

NHỮNG PHARAOH SAU AKHENATEN

Lịch sử Ai Cập Pharaoh và kim tự tháp
Lịch sử Ai Cập Pharaoh và kim tự tháp
Sau khi Akhenaten qua đời, Tể tướng Smenkere lên ngôi Pharaoh nhưng ông nầy chỉ cai trị được hai năm thì chết. Người con duy nhất của ông tên Tut khi đó mới 12 tuổi, lên ngôi lấy hiệu là Tutankhamun (Tut tôn thờ Amun). Điều này cho thấy chỉ một thời gian ngắn, các giáo sĩ phái Amun đã phục hồi ảnh hưởng và thế lực với triều đình. Trước khi chết, Pharaoh Smenkere chỉ thị cho Tut phải lấy Ankhense, con gái lớn của Akhenaten làm hoàng hậu và phong cho cô này tước hiệu là Akhenseamun (Akhen tuân phục Amun). Pharaoh Tutankhamun (thường được gọi là King Tut) cũng chỉ cai trị được 6 năm thì qua đời. Vì ông chưa có con nối dõi nên ngôi vị Pharaoh được truyền cho Tể tướng Horemheb.
Pharaoh Horemheb cai trị Ai Cập được 28 năm. Ông đặt ra một nền quân chủ pháp trị rất nghiêm khắc, áp dụng kỷ luật thép cho các trai tráng trong nước. Dưới sự lãnh đạo của Horemheb, Ai Cập đã có những lực lượng quân sự hùng hậu, thiện chiến hơn những Pharaoh đời trước.
Vị chỉ huy, tướng Seti, đã dẫn quân chinh phạt khắp nơi và nổi tiếng là một trong những vị tướng khát máu nhất lịch sử Ai Cập. Seti chủ trương phải tiêu diệt các tiểu quốc quanh vùng, bắt những người này làm nô lệ cho người Ai Cập. Người Do Thái, vì sống tại Palestine gần đó, đã trở thành những nạn nhân đầu tiên. Seti để lại câu nói bất hủ: "Nếu người Do Thái được tự do, người Ai Cập không thể ngóc đầu lên được".
Sau khi Pharaoh Horemheb qua đời, Seti đã giết luôn mười hai người con của Horemheb rồi tự xưng làm Pharaoh. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Ai Cập, một tướng lãnh đã soán ngôi Pharaoh một cách công khai, không sợ lịch sử phê phán hay thần linh trừng phạt. Việc này cũng tạo ra một tiền lệ cho những đời vua sau đó. Triều đại Seti kéo dài được ba đời thì vị hoàng đế Seti đời thứ tư bị một tướng lãnh khác là Ramses giết chết.
Triều đại Ramses kéo dài được tám đời và được các nhà chép sử coi là triều đại vẻ vang nhất lịch sử Ai Cập. Các Pharaoh này đã liên tiếp gây chiến tranh với các nước chung quanh, chiếm đoạt rất nhiều tài nguyên và nô lệ để xây cất những đền đài lăng tẩm vĩ đại, chưa từng có. (Lịch sử ghi nhận, dưới sự lãnh đạo của nhà tiên tri Moise, người Do Thái được trả tự do vào đời Ramses thứ tư - Chương Exodus trong Kinh Thánh).
Sau triều đại Ramses, xã hội Ai Cập trở nên thoái hóa, hỗn loạn, vô trật tự vì các vua chúa và tướng lãnh không ngừng tranh chấp lẫn nhau. Không một vị vua nào cai trị được quá 4 năm. Có nhiều người chỉ lên ngôi được vài tháng đã bị giết. Triều đình hỗn loạn, quan lại tham những, giới quí tộc lo bóc lột, xã hội suy đồi, kinh tế kiệt quệ, kẻ mạnh đàn áp người yếu, dân chúng đói khổ lầm than nên chỉ ít lâu sau, Ai Cập trở thành miếng mồi ngon cho người Syria.
Dưới sự cai trị của Syria, phần lớn các đền đài, lăng tẩm của vua chúa Ai Cập bị đập phá và dân Ai Cập phải cam chịu cảnh làm nô lệ cho người Syria, một giống dân mà khi xưa họ vẫn khinh là man di mọi rợ. Ít lâu sau, người Ba Tư đánh đuổi người Syria, chiếm Ai Cập và đặt xứ này dưới ách cai trị của họ trong suốt 260 năm.
Khoảng 322 năm trước Công nguyên, Hoàng đế Alexander của Hy Lạp khởi binh đánh đuổi người Ba Tư và chiếm Ai Cập. Tuy nhiên đối với các nhà chép sử Ai Cập thì đây là một cuộc giải phóng chứ không phải xâm lăng. Sở dĩ người Ai Cập có cảm tình với Hy Lạp vì Hoàng đế Alexander không những thông hiểu phong tục, tập quán của Ai Cập một cách tường tận mà còn tỏ ra tôn trọng các truyền thống văn hóa, tôn giáo của xứ này. Có lẽ Hoàng đế Alexander sở hữu một kiến thức rộng về Ai Cập vì thày dạy học của ông là hiền triết Aristotle, vốn là môn đệ của môn phái triết học do một người Ai Cập tên là Sinuhe khởi xướng. Học trò môn phái này đều là những triết gia nổi danh của Hy Lạp như Socrates, Plato, Aristotle, Pythagore, Thales, Lycurge, Solon, Jamblicus, Horedotus, Epitetus v.v…
Vì người Ai Cập xem Alexander như một nhà giải phóng xứ này khỏi ách ngoại xâm nên các giáo sĩ Ai Cập đã phong cho ông làm Pharaoh Ai Cập. Tuy nhiên chỉ ít lâu sau, Alexander lại lên đường tiếp tục công cuộc chinh phục các xứ khác như Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư, Syria, A Phú Hãn và Ấn Độ. Ông ban sắc lệnh đặt Ai Cập là đất bảo hộ, cho thiết lập một chế độ quân chủ tự trị nhưng bắt các Pharaoh Ai Cập hằng năm phải triều cống Hy Lạp. Không những thế, ông vẫn để một lực lượng quân đội lớn chiếm đóng xứ này để giám sát mọi việc nên chỉ ít lâu sau, nhiều tướng lãnh Hy lạp đã trở nên Pharaoh cai trị xứ này.
Khi Hy Lạp suy vong thì La Mã trở nên một thế lực quan trọng, kiểm soát toàn vùng Địa Trung Hải và xâm lăng Ai Cập. Lúc đó trong triều đình Ai Cập đang có việc tranh chấp ngôi vị Pharaoh. Công chúa Cleopatra sử dụng nữ sắc để lung lạc Hoàng đế Ceasar của La Mã khiến ông này phong cô làm Pharaoh.
Sau khi Caesar qua đời, Hoàng đế La Mã Augustus ban sắc lệnh sáp nhập Ai Cập thành một phần của đế quốc La Mã. Một lần nữa, người Ai Cập lại nai lưng ra phục vụ các triều vua La Mã cho đến khi đế quốc La Mã suy vong thì người Ả Rập xâm chiếm Ai Cập, đặt ra chế độ Caliphs để cai trị xứ này.
Từ đó hết quốc gia này đến quốc gia khác thay phiên nhau chiếm đóng, đô hộ Ai Cập cho đến thế kỷ 20, người Ai Cập mới thực sự giành lại chủ quyền.

CHỮ VIẾT AI CẬP

Lịch sử Ai Cập Pharaoh và kim tự tháp
Lịch sử Ai Cập Pharaoh và kim tự tháp
Từ 7000 năm trước Công nguyên, người Ai Cập đã có chữ viết, một thứ chữ tượng hình rất phong phú. Các nhà khảo cổ đã tìm được những tài liệu khắc trên đá đề cập đến vị trí các tinh tú cũng như ảnh hưởng thời tiết trong việc cấy cày ghi khắc vào năm 6700 trước Công nguyên.
Khi Ai Cập bị Ba Tư, Hy Lạp và Ả Rập cai trị thì văn hóa xứ này bị pha trộn với các ảnh hưởng ngoại lai nên dần dần thoái hóa, suy đồi. Mặc dù tiếng nói còn được sử dụng trong một thời gian nhưng chữ viết Ai Cập đã bị thất truyền vào khoảng đầu thế kỷ thứ ba sau Công nguyên.
Sử gia Julius ghi nhận không một người Ai Cập nào còn đọc được chữ viết của dân tộc họ nữa mà chỉ sử dụng chữ Hy Lạp, La Mã hoặc Ả Rập. Vì thế đa số người Ai Cập không hiểu được những giòng chữ ghi khắc trong các đền đài, lăng tẩm, cổ mộ, bia đá, thạch trụ nên chẳng mấy ai biết gì về nguồn gốc cũng như gia sản văn hóa phong phú mà cha ông họ đã để lại. Có lẽ vì thế người Ai Cập đã chấp nhận văn hóa Ả Rập như văn hóa chính thức của họ và trong mấy ngàn năm dài, lịch sử và văn hóa Ai Cập chỉ là những huyền thoại mơ hồ được kể lại trong những câu chuyện truyền khẩu chốn dân gian mà thôi.
Năm 1798, Hoàng đế Napoleon đem quân xâm chiếm Ai Cập. Ông cho xây cất những pháo đài quanh vùng duyên hải để ngăn ngừa tầm hoạt động của hải quân Anh. Trong lúc xây cất pháo đài nằm cạnh hải cảng Rosetta, Trung sĩ Pháo binh Boussard đã tìm được một khối đá màu đen trên có ghi khắc 54 giòng chữ Ai Cập và một bản dịch bằng tiếng Hy Lạp phía dưới. Chính nhờ thế mà nhà khảo cứu cổ ngữ Champollion mới nghiên cứu, sắp đặt lại các mẫu tự Ai Cập và phục hồi văn tự đã thất truyền này.
Qua công trình nghiên cứu của Champollion, các nhà khảo cổ đã dựa theo đó để phiên dịch các chữ viết ghi khắc trong các đền đài, cổ mộ, thạch trụ và phục hồi các chi tiết lịch sử Ai Cập cũng như góp phần phục hưng nền văn hóa phong phú này. Các công cuộc nghiên cứu về văn hóa Ai Cập bắt đầu khoảng cuối thế kỷ 19 qua sự khai quật các ngôi cổ mộ và đến nay đã hé mở cho chúng ta thấy được một phần về nền văn minh đã bị vùi lấp dưới lớp cát sa mạc này.







Dấu Chân Trên Cát Tác giả Mika Waltari

Phanblogs Dấu Chân Trên Cát là một quyển sách kì lạ. Vì trước khi là một quyển sách triệu bản, đó chỉ là cuốn tiểu thuyết hư cấu của tác giả Mika Waltari (1908-1979) - Một nhà soạn kịch nổi tiếng.
Điều bất ngờ trong cuốn sách này chính là ở việc tuy là một tiểu thuyết hư cấu, nhưng cuốn sách mang lại giá trị trên địa hạt sử liệu và khảo cổ vô cùng lớn về một nền văn minh Ai Cập cổ đại. Những điều mà ai cũng nghĩ là mình đã biết nhưng không biết rõ.

Dấu Chân Trên Cát Tác giả Mika Waltari
Dấu Chân Trên Cát Tác giả Mika Waltari

Tất cả những gì đã được Sinuhe chứng kiến và trải nghiệm trong đó rất nhiều những phong tục, tập quán, văn hóa cổ đại của Ai Cập hiện lên rất sinh động và hấp dẫn qua giọng văn tài hoa lẫn hài hước của Mika Waltari.
Lịch sử thường khô khan, nhất là những lịch sử cổ đại xa xưa, lịch sử của những nền văn minh đã bị chôn vùi nhiều ngàn năm trong cát đá lạnh lùng, trong những lăng mộ âm u, những xác ướp ghê rợn, vân vân, của người Ai Cập Trung Đông, thì lại càng dễ rơi vào những chỗ khô khan, nhàm chán, ghê sợ, vân vân.
Trong đó, là một đất nước Ai Cập cổ đại sống động, chưa bao giờ rõ nét hơn.
Một nền văn minh Ai Cập cổ đại rất thật, rất gần trong “Dấu Chân Trên Cát” qua từng trang sách.
Truyện nổi bật vấn đề về cái chết, sự sống, con người hướng thiện, bắt đầu từ 1 vị bác sĩ , lương y, hết lòng vì bệnh nhân, không màng danh lợi, ham học hỏi, chỉ theo đuổi kiến thức, và những điều khác trong cuộc sống. Tất cả đều rất gần với con người thật, bản ngã con người cũng vậy, không vững bền khắc sẽ vị lung lay vì những thứ hào nhoáng bên ngoài, ko có giá trị thực tế...
Bản thân sau khi đọc cuốn "hành trình về phương Đông" và chuyển qua đọc cuốn này, đại ý như 1 sự liền mạch về cách suy nghĩ với sự sống và cái chết, về kiếp luân hồi, ở thiện làm điều thiện sẽ chuyển hoá qua 1 thế giới khác, làm lại được kiếp con người..

Đọc để bản thân thấy mình thanh thản hơn, an nhiên hơn giữa đòng đời tấp nập hối hả, ko biết sống vì mục đích gì..
Một cuốn sách dành cho những ai thích tìm hiểu về Ai Cập cổ đại và một số vấn đề về tâm linh. Rodbooks xin trích lại 5 ý hay cho các bạn đọc sơ qua nhé:
Không một người nào có thể gọi là khỏe mạnh nếu tâm hồn của họ què quặt & ốm yếu
Kiến thức là một kho tàng quí báu, nhưng đôi lúc cũng là con dao hai lưỡi, nếu không biết cách sử dụng sẽ đem lại hậu quả tai hại.
Giáo dục là một phần rất quan trọng trong sự phát triển đời sống. Con người nhìn cuộc đời ra sao tùy thuộc rất nhiều ở sự giáo dục của người đó
Chân lý không bao giờ đổi thay
Việc duy nhất để giải quyết sự bất đồng ý kiến, dị biệt tư tưởng chính là tình yêu thương.





Dấu Chân Trên Cát Tác giả Mika Waltari PDF


Dấu Chân Trên Cát Tác giả Mika Waltari DOC


Dấu Chân Trên Cát Tác giả Mika Waltari TXT



Bắt Trẻ Đồng Xanh Tác Giả: J.D. Salinger

Phanblogs NGƯỜI BẮT TRẺ GIỮA ĐỒNG XANH

NGƯỜI BẮT TRẺ GIỮA ĐỒNG XANH
Bắt Trẻ Đồng Xanh Tác Giả: J.D. Salinger

Nhìn tựa đề Bắt trẻ đồng xanh, tôi hình dung ra cảnh đuổi bắt trốn tìm của một bầy trẻ nhỏ trên cánh đồng xanh bát ngát đang vào mùa - thật sinh động, thật hồn nhiên và đẹp tuyệt vời.

Thế nhưng mọi thứ đều trái ngược ngay khi lật những trang đầu tiên. Cảm giác shock vì bị nhấn chìm trong những suy nghĩ chán chường, đầy những câu chửi thề cáu bẳn của Holden - nhân vật chính của truyện, cả cách xưng hô với người khác của Holden cũng rất chói tai, nó thô thiển, vô giáo dục lạ lùng!

Bắt trẻ đồng xanh là tự sự của Holden - sinh viên 18 tuổi, vừa bị đuổi khỏi trường dự bị đại hoc Pencey- Agerstown, thành phố Pennsylvania, vì thành tích bất hảo rớt bốn trên tổng số năm môn môn học .

Nếu có cuộc đuổi bắt nào ghi trong sách, thì có lẽ chính là những suy nghĩ lan man, rối rắm chạy lòng vòng trong đầu Holden sau khi biết mình bị đuổi học. Cậu rời trường, đến thành phố New York nhưng lại chẳng dám về nhà trước ngày bế giảng.

Holden chẳng thích gì, chán ghét tất cả, cậu có thể lảm nhảm hàng giờ liền trong cái đầu chứa đầy những "mắc dịch, dịch hạch, bỏ mẹ, thật thối, ối giời..". Holden ghét sự giả dối đầy bộ tịch của người đời, ghét cả những thói hư tật xấu đang diễn ra quanh mình. Hãy thử nghe cậu nói.

“Ừ, tôi thì ghét trường học. Ôi giời, tôi ghét cay ghét đắng...”

“Nhưng không chỉ có thế. Tôi ghét sống ở New York các thứ. Xe taxi, xe đò trên Đại lộ Madison, với những thằng lái xe luôn luôn hét vào mặt bảo mình xuống cửa sau,

“Cô phải đi học một trường con trai thử mà xem. Cô thử đi...”

“Đầy cả tụi bộ tịch, và cô chỉ phải học để một ngày kia có thể mua được một chiếc Callidac trời đánh và cứ phải làm ra vẻ mình rất quan tâm đến trận đấu bóng, và suốt ngày chỉ nói về con gái, rượu và tình dục, và mọi người bám lấy nhau trong những bè đảng thối tha ấy”

"Một trong những lý do lớn nhất vì sao tôi rời trường Elkton Hills là vì, ở đấy xung quanh tôi chỉ toàn tụi bộ tịch. Đấy, lý do là thế đấy. Chẳng hạn ông già hiệu trưởng, ông Haas, đấy là thằng cha bộ tịch nhất tôi từng gặp trong đời. Còn bộ tịch gấp mười già Thurmer."

Cứ lắng nghe Holden càu nhàu mãi rồi tôi cũng hiểu - ở một độ tuổi nhạy cảm, cậu thu người lại trong một góc hẹp mà phán đoán mọi việc quanh mình, cuộc sống với những mặt trái hiện rõ trước mắt làm cậu chán chường rồi sợ hãi, cậu như một giọt nước tinh khiết bám trên thành hồ, nhìn vào lòng hồ đầy những cặn bã, rong rêu mà hoảng sợ không muốn thảy mình vào cái hồ nhơ nhớp đó.

Holden của tuổi trẻ nổi loạn như một con nhím xù gai nhọn nhưng lại đầy tình cảm - cậu luôn nghĩ đến DB - người anh viết văn tài giỏi của mình, nhớ em Allie đã mất với chiếc găng tay trái của cầu thủ bóng chày viết đầy thơ, cậu mong được “cà riềng cà tỏi" với em Phoebe, hay muốn gọi điện thoại để hẹn gặp Jane Gallagher- cô bạn gái láng giềng thích chơi cờ đam. Holden nói về tình dục ngang phè như một tay chơi từng trải, nhưng thực chất vẫn là trai tân, gọi gái lên phòng chỉ để nói chuyện tầm phào, cậu lành đến nỗi bị tay dắt gái và ả gái gọi bắt chẹt đến thương.

Holden vẫn tự trào về mình “Tôi dốt đặc nhưng tôi đọc sách khá nhiều” hay “Tôi là cái thằng nói láo kinh khủng nhất mà bạn từng thấy trên đời. Khủng khiếp lắm ấy. Nếu tôi đang đi đến tiệm mua một tờ báo mà gặp ai hỏi tôi đi đâu, tôi cũng dám nói tôi đi xem hát lắm. Thật khiếp!” và "Tôi là thằng “rất nhát gan. Tôi cố đừng lộ ra thế, nhưng chính ra tôi rất nhát gan.” Điều làm tôi buồn cười nhất, tuy Holden chửi thề luôn miệng nhưng lại phản ứng rất mạnh khi thấy hai chữ "ĐM" viết trên tường trường nơi em Phoebe học “Tôi cứ muốn giết thằng nào đã viết những chữ ấy. Tôi tưởng tượng đấy là một thằng biến thái trời đánh thánh vật nào đã lẻn vào ban đêm rồi viết như thế trên tường. Tôi cứ tưởng tượng tôi đang bắt quả tang nó, và tôi đập cái đầu nó vào những bậc đá như thế nào, cho đến khi nó đầy cả máu me và chết ngoẻo cổ. Nhưng đồng thời tôi cũng biết tôi sẽ không có can đảm làm thế. Tôi biết như vậy. Điều ấy làm tôi càng rầu rĩ hơn. Tôi lại còn không đủ can đảm để chùi nó với bàn tay tôi nữa là khác, nếu bạn muốn biết sự thật. Tôi sợ một ông thầy giáo nào đó sẽ bắt gặp tôi đang xóa và tưởng chính tôi đã viết nó. Nhưng rốt cuộc tôi cũng xóa như thường.”

Holden ơi Holden! Cậu đã dẫn tôi qua mọi cung bậc của cảm xúc, từ bất ngờ, chán ghét, khó chịu, đến thấu hiểu, cảm thông, thích thú, rồi lo lắng, mong mỏi và da diết!

Nhớ Holden với câu hỏi vô cùng vớ vẩn về những con vịt trên hồ ở công viên trung tâm gần đường Nam Công Viên “Tôi đang thắc mắc không biết những con vịt sẽ đi về đâu, khi nước hồ đóng thành băng hết. Tôi tự hỏi có thằng cha nào mang cam nhông lại đem chúng đi đến một vườn thú hay gì không? Hay chúng chỉ bay đi là xong.”

Nhớ Holden chỉ là một đứa trẻ to xác khi bảo với em Phoebe.

“Em biết bài hát ‘Nếu một đứa nào bắt được đứa nào đang đến qua đồng lúa mạch xanh’ không?

Anh cứ tưởng tượng một bầy trẻ con chơi một trò chơi gì đó trong một đồng lúa mạch thật to. Hàng nghìn đứa trẻ con, và không có ai ở đấy - không có ai là người lớn, anh muốn nói vậy - trừ anh. Và anh thì đứng trên một mỏm đá điên khùng nào đó. Điều anh phải làm là, anh phải bắt tất cả những đứa trẻ nào chạy tới gần mỏm đá. Nghĩa là nếu chúng đang chạy mà không coi chừng chúng ở đâu, thì anh sẽ nấp ở một nơi nào đó rồi ra bắt lấy chúng. Anh sẽ làm như thế suốt ngày. Anh sẽ làm người “bắt trẻ đồng xanh các thứ. Anh biết thật là điên khùng, nhưng đấy là điều độc nhất anh muốn làm. Anh biết vậy là thật điên khùng.”

Ước muốn duy nhất đó đã nói lên khao khát bắt giữ những ký ức tuổi thơ của Holden, nhưng ai rồi cũng phải trưởng thành, dù giai đoạn chuyển tiếp này có khó khăn rồ dại đến đâu. Đến cuối cùng thì giọt nước tinh khiết đó cũng không thể bám mãi ở thành hồ, mà phải gieo mình hoà vào lòng hồ "Cuộc sống" nếu muốn tồn tại.

Holden rồi cũng quay về nhà, tiếp tục đi học, làm em của DB, làm anh của Phoebe - cùng khiêu vũ và cà riềng cà tỏi với em.

Holden ớ ẩm, chửi tục, hay lầm bầm phê phán, và chẳng tuân theo khuôn mẫu nào của cuộc sống, cậu cứ là chính cậu thôi. Cậu cũng chẳng bao giờ muốn hứa hẹn bởi cậu cho rằng "làm sao bạn có thể biết được bạn sẽ làm gì cho đến khi bạn làm thật? Câu trả lời là, bạn không thể biết ".

Bắt trẻ đồng xanh là tác phẩm lạ lùng có một không hai, bởi nhân vật chính của truyện - Holden - cũng lạ lùng chẳng giống ai, cậu vừa đáng trách lại vừa đáng yêu!

Lichan - Happiness Project


Bắt Trẻ Đồng Xanh Tác Giả: J.D. Salinger pdf


Bắt Trẻ Đồng Xanh Tác Giả: J.D. Salinger docx


Bắt Trẻ Đồng Xanh Tác Giả: J.D. Salinger txt






Quán chiếu quyền lực

Phanblogs Quán chiếu quyền lực phương pháp vận hành

Đặng Lê Nguyên Vũ
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Sinh Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam Cộng hòa
Nơi cư trú Buôn Ma Thuột
Dân tộc Kinh
Nghề nghiệp Doanh nhân
Tổ chức Tập đoàn Trung Nguyên
Đại lý Doanh nghiệp
Nổi tiếng vì Thương hiệu cà phê Trung Nguyên
Vợ/chồng Lê Hoàng Diệp Thảo
Đặng Lê Nguyên Vũ (sinh năm 1971) là một doanh nhân Việt Nam. Ông là người sáng lập, chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Trung Nguyên, Việt Nam. Ông là người được National Geographic Traveller và Forbes Asia vinh danh là "Vua Cà phê Việt Nam".
Văn bản
Văn bản giao tiếp nội bộ
Văn bản
Văn bản giao tiếp nội bộ

Trung nguyên Legend logo

Cựu CEO Trung Nguyên Đỗ Hòa trước Bàn thờ cà phê. Có thể tạm gọi là văn hóa doanh nghiệp.



Trưởng thành từ kinh doanh cà phê, Đặng Lê Nguyên Vũ đã nâng dần ý nghĩa của việc kinh doanh cà phê từ kinh doanh thuần túy đến đạo cà phê, đưa Việt Nam thành thánh địa cà phê toàn cầu, và cuối cùng là đưa công ty thành một tôn giáo trong đó ông Vũ được thông linh và được trao sứ mệnh "cứu nhân loại". Trong quá trình này, vợ ông, Lê Hoàng Diệp Thảo đã bị đưa ra khỏi công ty. Bà coi việc này là sự phá hoại công ty và đang làm thủ tục ly hôn. Cựu CEO Trung Nguyên Đỗ Hòa thì cho rằng ông Vũ bị hoang tưởng quyền lực.